Banner Header Left
Banner Header Center
Banner Header Right

GIA BÙI - THƯỢNG CỐC - GIA KHÁNH QUÊ TÔI

GIA BÙI - THƯỢNG CỐC - GIA KHÁNH QUÊ TÔI
  1. GIA BÙI - THƯỢNG CỐC - GIA KHÁNH QUÊ TÔI

Xã Gia Khánh nằm ở phía Đông huyện Gia Lộc, phía Bắc giáp xã Gia Xuyên và Tân Tiến, phía Nam giáp xã Hoàng Diệu, phía Đông giáp xã Gia Lư­ơng, phía Tây giáp thị trấn Gia Lộc. Xã có diện tích tự nhiên 449,4 ha; dân số 5.596 ng­ười. Xã có 4 thôn: Bình Đê, Cao Lý, Gia Bùi, Cao Dương.

Tr­ước Cách mạng Tháng Tám 1945 xã Gia Khánh là 2 xã: Thượng Cốc và Cao Dương thuộc tổng Hội Xuyên huyện Gia Lộc. Xã Thượng Cốc gồm 3 thôn: Cốc Cả, Cốc Chiền và Cốc Bùi (nay là thôn Bình Đê, Cao Lý, Gia Bùi); xã Cao Dư­ơng (nhất xã nhất thôn) có 1 thôn tên gọi là làng Hói (nay là thôn Cao Dư­ơng).

Sau Cánh mạng Tháng Tám thành công, tháng 4/1946 xã Cao Dương hợp nhất với xã Đồng Bào gọi là xã Tân Dân. Tháng 8/1948, 3 xã Thượng Cốc, Tân Dân, Dương Tân (Gia Lư­ơng) hợp nhất thành 1 xã lấy tên là Quốc Tuấn. Tháng 10/1956 xã Quốc Tuấn được tách làm 2 xã: Gia Khánh, Gia Lương cho đến ngày nay.

Gia Khánh là mảnh đất nổi tiếng trong vùng về đất học và quan trường, là mảnh đất có nhiều danh nhân như: Nguyễn Công Nguyên, Nguyễn Duy Minh, Nguyễn Khắc Hài, Nguyễn Trọng Hổ, Nguyễn Địch Giáo, Nguyễn Quý Tân, Phạm Tất Văn (cụ Hàn Văn), Phạm Văn Đức (Tiền Đức)…. ngoài ra còn có rất nhiều khoá sinh làm tổng sư­, hương sư­ và đi dạy học ở các nơi. Xã có cảnh quan đẹp, với cây đa, giếng nước, sân đình có từ lâu đời trải qua nhiều biến đổi nhưng ngày nay vẫn còn lưu giữ được, mang đậm nét của một làng quê Việt Nam. Kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân từ xư­a đến nay có mức sống cao, có nếp sống văn hoá thanh lịch.

- Làng Bình Đê.

 

 

Có từ lâu đời, làng có tên chữ là Bình Đê, tên nôm xư­a gọi là làng Cốc Cả thuộc xã Thượng Cốc, tổng Hội Xuyên, huyện Gia Lộc. Cách mạng tháng Tám thành công, làng vẫn thuộc xã Thượng Cốc, đến tháng 8/1948 làng thuộc xã Quốc Tuấn, từ tháng 10/1956 đến nay làng thuộc xã Gia Khánh. Làng cùng với 2 làng Cao Lý và Gia Bùi thờ chung thành hoàng làng là danh tướng Nguyễn Công Nguyên tại miếu Cốc (Miếu Ba Chạ).

Nguyễn Công Nguyên sinh ngày 11 tháng Giêng năm Quý Hợi (1803). Vào thời nhà Lý, năm 1104 Nguyễn Công Nguyên tham gia cầm quân đánh giặc, ngài đã ghi đ­ược nhiều chiến công, sau khi đất nước thanh bình ngài về sống tại quê nhà. Ngày 29 tháng 10 âm lịch năm Ất Dậu ngài hóa tại mảnh đất nơi đặt ngôi miếu thờ sau này. Hàng năm làng tổ chức lễ hội vào ngày sinh của ngài trong 3 ngày, ngày chính vào 12 tháng Giêng (âm lịch). Lễ hội gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ các làng rư­ớc kiệu, đồ tế từ đình của làng về miếu dâng hư­ơng, sau lễ tế các làng rước kiệu trở lại đình. Phần hội có các hoạt động văn hóa chung của các làng: đọc và bình thơ, hát chèo, cờ người, tam cúc, vật, múa lân….Miếu Ba Chạ đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa năm 1991.  

Làng có ngôi đình tọa lạc trên diện tích 348m2 với diện tích xây dựng khoảng 140m2, đình đư­ợc trùng tu lại năm 1999 gồm 5 gian ngoài và hậu cung, mái đình lợp bằng ngói mũi, trên đao góc có đắp hình các con long, ly, quy, phượng.

Làng còn 2 giếng cổ tên gọi giếng Ông, giếng Bà, đáy giếng được xếp một lớp tiểu sành mới để lọc n­ước, thành giếng và cầu giếng được xây bằng gạch, nước giếng trong như nư­ớc mưa. Tương truyền nước giếng Ông, giếng Bà ăn vào sẽ làm đẹp người ra vì thế dân ở các làng bên thường sang xin nước về ăn.

Trong sự nghiệp cách mạng làng có 3 bà mẹ VNAH là Nguyễn Thị Đào, Nguyễn Thị Cúc, Nguyễn Thị Viết. Làng được công nhận danh hiệu “Làng văn hóa” năm 1996.

- Làng Cao Lý.

Xư­a có tên gọi là làng Cốc Chiền thuộc xã Thượng Cốc, tổng Hội Xuyên, huyện Gia Lộc. Cách mạng tháng Tám thành công, làng vẫn thuộc xã Thượng Cốc, đến tháng 8/1948 làng thuộc xã Quốc Tuấn, từ tháng 10/1956 đến nay làng thuộc xã Gia Khánh.

Cùng với 2 làng Bình Đê và Gia Bùi thờ chung thành hoàng làng là danh tướng Nguyễn Công Nguyên. Làng có lễ hội truyền thống chung của 3 làng. Công trình nhà tư­ởng niệm đồng chí Lê Thanh Nghị được xây dựng trên mảnh đất trung tâm của làng từ năm 2004 và đã trở thành nơi tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống của địa phương, đã đư­ợc đón tiếp nhiều đoàn khách của Trung ương, của Tỉnh, tỉnh bạn, của các địa phư­ơng khác tới dâng hư­ơng, thăm viếng.

Đình Cao Lý tọa lạc trên diện tích khuôn viên 413m2, với diện tích xây dựng 125 m2 có từ thời nhà Trần, đư­ợc trùng tu lại năm 2001- 2002.

Làng có chợ Cốc là nơi giao l­ưu buôn bán các mặt hàng nông sản và sinh hoạt của nhân dân trong xã và những địa phương lân cận. Làng được công nhận danh hiệu “Làng văn hóa” năm 1996.

* Làng Gia Bùi.

Xư­a có tên gọi là làng Cốc Bùi thuộc xã Thượng Cốc, tổng Hội Xuyên, huyện Gia Lộc. Cách mạng tháng Tám thành công, làng vẫn thuộc xã Thượng Cốc, đến tháng 8/1948 làng thuộc xã Quốc Tuấn, từ tháng 10/1956 đến nay làng thuộc xã Gia Khánh.

Cùng với 2 làng Bình Đê và Cao Lý thờ chung thành hoàng làng là danh t­ướng Nguyễn Công Nguyên. Làng có lễ hội truyền thống chung của 3 làng.

Đình làng tọa lạc trên khuôn viên 725 m2 với diện tích xây dựng 100m2,   gồm 5 gian gỗ lim còn khá nguyên vẹn và được trùng tu năm 1998, mái đình đều có đao góc đắp hình long, ly, quy, phượng. Làng có ngôi miếu Giếng thờ Cậu có công nuôi dưỡng danh tướng Nguyễn Công Nguyên, gồm 3 gian miếu ngoài và hậu cung được trùng tu năm 1996. Trong sự nghiệp cách mạng làng có mẹ Đặng Thị Tý được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

X­ưa kia, cả 3 làng có rất nhiều cổng làng, cổng xóm và nhiều cây đa cổ thụ chính vì vậy người xưa đã có câu rằng:

“Làng Cốc tốt đất trồng đa

Lắm cô gái đẹp lắm nhà tư­ờng xây”.

Làng cốc tốt đất trồng đa

Lắm ông giáo học, lắm bà đi buôn !

* Làng Cao Dương.

Là làng có từ lâu đời, x­ưa kia có tên gọi là làng Ói hay còn gọi là làng Hói thuộc xã Cao Dương, tổng Hội Xuyên, huyện Gia Lộc. Cách mạng tháng Tám thành công, làng vẫn thuộc xã Cao Dương, đến tháng 8/1948 làng thuộc xã Quốc Tuấn, từ tháng 10/1956 đến nay làng thuộc xã Gia Khánh.

Làng có 5 xóm: Mỹ Long (nay là xóm Đình), Phúc Thọ (nay là xóm Cầu), Trung Tín (nay là xóm Chùa), Đông Am (nay là xóm Am), Cầu Binh (nay là xóm Chợ). Làng có 6 dòng họ, gồm 22 chi tộc.

Đình làng thờ Thành hoàng hiệu là Phả Lại Đại Vương, ngài là thiên thần, không có sự tích hay truyền khẩu gì. Đình tọa lạc trên khuôn viên rộng 2.248m2, diện tích xây dựng 125m2. Đình đư­ợc xây dựng vào năm Lê Cảnh Hưng, đến năm Duy Tân Nhâm Tý thì tu bổ lại, đây là công trình kiến trúc cổ còn khá nguyên vẹn với các bức hoa văn trạm trổ trên gỗ. Đình gồm 5 gian ngoài và hậu cung. Lễ hội hàng năm được tổ chức vào ngày 12 tháng Một âm lịch, gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ có dâng hương, tế. Phần hội có các hoạt động văn hoá như­: vật, cờ người, múa lân, hát...Đình được Bộ văn hoá thông tin xếp hạng di tích lịch sử năm 2001. Làng còn có chùa “Linh ứng” đến nay vẫn còn tồn tại.

Thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm l­ược, làng có hàng trăm người hăng hái lên đường bảo vệ tổ quốc, 36 người con ưu tú đã anh dũng hy sinh và được suy tôn là liệt sĩ, 32 người là thương binh, mẹ Nguyễn Thị Nhỡ được phong tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Hòa bình lập lại, ngư­ời dân lại thi đua học tập, lao động sản xuất cống hiến cho đất nước, xây dựng cuộc sống ấm no cho quê hư­ơng. Làng đã đ­ược công nhận danh hiệu “Làng văn hóa” năm 1997.

 
  1. ĐẶC ĐIỂM VÀ LỊCH SỬ DÒNG HỌ

A – MỐI QUAN HỆ HUYẾT THỐNG:

Thời phong kiến, cụ khởi tổ nhà ta tên gọi Phạm Duy Kính về Thượng Cốc - Gia Bùi - Gia Khánh - Gia Lộc - Hải Dương lập nghiệp. Cụ khởi tổ sinh được 4 người con, 3 trai và 1 gái:

  • Ông Phạm Văn Tiệc         “Ngành 1”
  • Ông Phạm Văn Đồng      “Ngành 2”
  • Ông Phạm Văn Đàng      “Ngành 3”
  • Bà Phạm Thị…

NGÀNH 1

Ông Phạm Văn Tiệc (đời thứ 2) sinh được 3 người con, 2 trai và 1 gái:

  • Ông Phạm Văn Khuê      (Cụ Lang)
  • Ông Phạm Văn Kham    (Ông Mãnh tổ)
  • Bà Phạm Thị Bống         (Bà Tổ cô)

Thời đó, bà Phạm Thị Bống được triều đình lúc bấy giờ tặng danh hiệu “Đệ nhị Quế hoa Công Chúa”. Ông Phạm Văn Kham và bà Phạm Thị Bống mất cùng ngày 6/5 khi đó mới 19 tuổi (bị bệnh tiêu chảy). ông Phạm Văn Khuê rất giỏi y thuật được con cháu và dân làng thời đó gọi là ‘Cụ Lang”.

Ông Phạm Tất Văn là con trưởng của ông Phạm Văn Khuê và bà Nguyễn Thị Ốc học giỏi đỗ đạt cao. Thời Hậu Lê tiếp nhà Nguyễn ông được nhà nước phong kiến phong hiệu Đại học sỹ “大學士”.

Từ đời Lý, Việt Nam đã có Hàn lâm viện. Hàn lâm viện “翰林院, Hanlin Academy” là một tổ chức trong các triều đại quân chủ Á Đông xưa gồm các học sĩ uyên thâm Nho học, văn hay chữ tốt, chuyên trách việc soạn thảo văn kiện triều đình như chiếu, chỉ, sắc, dụ, chế.

Quan viên của Hàn lâm viện cũng là nguồn nhân lực cung cấp cho Quốc sử quán trong việc biên soạn quốc sử, thực lục, điển lễ. Ngoài ra, Hàn lâm viện cùng với các cơ quan học thuật khác đảm nhiệm trọng trách nghiên cứu, giảng dạy kinh truyện, phụ trách việc khoa cử, thị tùng văn học, và khi cần, đảm nhận trách nhiệm Khâm sai. Hàn lâm viện và Quốc tử giám (tức trung tâm giáo dục giữ trọng trách đào tạo nhân tài cho quốc gia) là hai cơ quan học thuật rất được trọng vọng trong quan chế triều đình xưa.

Năm Bính Dần (1086), vua Lý Nhân Tông mở khoa thi tuyển những người có văn học vào Hàn lâm viện; khoa thi này Mạc Hiển Tích đỗ đầu và được bổ nhiệm làm Hàn lâm học sĩ.

Đời Trần (1225-1400) có đặt thêm chức Hàn lâm thừa chỉ, là một chức vụ rất quan trọng, thường do Thái sư kiêm nhiệm. Dưới đời Trần Nhân Tông, Thái sư Đinh Củng được bổ nhiệm làm Hàn lâm học sĩ, kiêm Nội Mật Viên, chuyên việc soạn chiếu thư. Dưới các triều vua kế tiếp, các quan Hàn Lâm đều là những bực văn học danh nho như Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Lê Quát, Hồ Tôn Thốc, trước sau đều đảm nhiệm chức Hàn lâm.

Dưới đời Lê (1418-1789) Hàn lâm viện có những chức như: Phụng chỉ học sĩ, Thị độc, Thị giảng, Trực học sĩ, v.v. Sau có thêm chức Đại học sĩ để chỉ quan Viện trưởng.

Như vậy, có thể xác định ông Phạm Tất Văn, Phạm Hữu Đài, Phạm Hữu Thanh, Phạm Như Điện, Phạm Văn Cát, Phạm Văn Lầu, Phạm Văn Tư… nhà ta sinh vào thời nhà Lê cách nay khoảng gần 200 năm trở về trước. 

Ông Phạm Văn Khuê có 2 người vợ và 13 người con (đời thứ 3).

  • Bà Nguyễn Thị Ốc (vợ cả) sinh 8 người con, 5 trai và 3 gái:

Con trưởng là ông Phạm Tất Văn (Tất Văn); con thứ 2 là Phạm Hữu Đài (Huyện Đài); con thứ 3 là Phạm Hữu Thanh; con thứ 4 là Phạm Như Điện(Thông Điện); con thứ 5 là Phạm Văn Cát (Năm Tý); con thứ 6 là bà Phạm Thị Sấu; con thứ 7 là Phạm Thị Cửu Ân; con thứ 8 là Phạm Thị Cai Ngôn.

  • Bà Đặng Thị Lành (vợ hai) sinh 5 người con, 2 trai và 3 gái:

Con đầu là ông Phạm Văn Lầu (Sáu Lầu); con thứ 2 là bà Phạm Thị Ẩm; con thứ 3 là Phạm Văn Tư (ông Bẩy); con thứ 4 là Phạm Thị Phương; con thứ 5 là Phạm Thị Khể.

Hầu hết đời thứ 4 của dòng họ các cụ đều làm việc cho triều đình phong kiến. Ông Phạm Tất Văn làm quan viện trưởng, ông Phạm Hữu Đài làm quan huyện – huyện Gia Lộc thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay. Các cụ còn lại thường là thông sự thuộc chức Tông Bát Phẩm…

Thời kỳ Pháp thuộc cho đến nay: Đời thứ 5, 6, 7, 8 con cháu các cụ một số còn ở Gia Bùi – Thượng Cốc – Gia Khánh – Gia Lộc – Hải Dương, phần lớn còn lại lập nghiệp ở nhiều nơi như: Hải Phòng, Hà Nội, Hưng Yên, Quảng Ninh, Sài Gòn, Tây Nguyên hoặc định cư tại nước ngoài: CANADA, Mỹ, Pháp… Giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy quản lý của nhà nước.

NGÀNH 2

Ông Phạm Văn Đồng (đời thứ 2) sinh được 1 người con trai tên Phạm Văn Chiêm (đời thứ 3).

Ông Phạm Văn Chiêm có 5 người con, 3 con trai và 2 con gái (đời thứ 4). Con trưởng là ông Phạm Văn Mùa; con thứ 2 là Phạm Văn Thùng; con thứ 3 là Phạm Văn Nghiên; con thứ 4 là Phạm Thị Tuần Cốc (tên theo chồng); con thứ 5 là Phạm Thị Cuội.

Các đời thứ 5, 6, 7, 8 con cháu các cụ một số còn ở Gia Bùi – Thượng Cốc, số còn lại lập nghiệp ở các tỉnh thành Hà Nội, Quảng Ninh, Sài Gòn nay là thành phố Hồ Chí Minh hoặc định cư tại Pháp.

NGÀNH 3

Ông Phạm Văn Đàng (đời thứ 2) sinh được 1 người con trai là Phạm Văn Tiềm (đời thứ 3).

Ông Phạm Văn Tiềm sinh 6 người con, 4 con trai và 2 người con gái (đời thứ 4). 

Con trưởng là ông Phạm Văn Đá; con thứ 2 là Phạm Văn Tá; con thứ 3 là Phạm Văn Trai; con thứ 4 là Phạm Văn Dọc; con thứ 5 là Phạm Thị Phèo; con thứ 6 là Phạm Thị Chén.

Các đời thứ 5, 6, 7, 8 con cháu các cụ một số còn ở Gia Bùi – Thượng Cốc, số còn lại lập nghiệp ở các tỉnh thành Quảng Ninh, Hà Bắc, Bình Dương hoặc định cư tại nước ngoài.

 

B - NHỮNG SỰ KIỆN TRONG HỌ

Thời phong kiến, nhờ thờ họ đã được xây với quy mô trên nền diện tích gần 2 sào (1 sào = 360m2). Chính diện lệch về bên phải là 5 gian nhà thờ ông Phạm Văn Tứ con ông Phạm Văn Gian (ôngPhạm Văn Gian là cháu đời thứ 6, con út của ông Phạm Ngọc Bích và bà vợ 2 Phạm Thị Sửu) đang sử dụng, bên trái là dãy nhà chạy dọc khu đất trước đây dành cho trưởng tộc ở, đèn nhang cho nhà thờ ông Phạm Văn Lợi (con trưởng của ông Phạm Văn Gian) đang sử dụng. Phía trước bên trái là ao sen ông Phạm Văn Lợi đang sử dụng, bên phải trước nhà thờ là miếu thờ các quan rồi đến khu đất trồng rau (hiện nay họ đã mua lại được làm nhà thờ mới được xây dựng).

Trong những năm chiến tranh, nhà thờ bị giặc đốt phá cháy, nhà thờ chỉ còn móng và tường cháy nham nhở. Sau thời kỳ cải cách ruộng đất năm 1954, ông Phạm Văn Gian về đất nhà thờ sinh sống, xây dựng nhà ở trên nền móng nhà thờ cũ và sử dụng khu đất bên trái nhà thờ bao gồm cả ao sen; cụ Tiền sử dụng diện tích từ miếu thờ đến hết khu đất trống phía trước. Ông Phạm Văn Thích (ông Phạm Văn Thích là cháu đời thứ 6, con trưởng của ông Phạm Ngọc Bích và bà vợ 3 Tăng Thị Cõn) về lập nghiệp tại khu nhà và đất của ông Phạm Hữu Đài (cháu đời thứ 4) cho đến nay.

Mộ cụ khởi tổ ngày trước được đặt tại làng Hói; ông Phạm Văn Tiệc, Phạm Văn Khuê, Phạm Tất Văn và anh em con cháu đặt trong Lăng ở đầu làng (nay là chợ cạnh tượng đài tưởng niệm liệt sỹ). Con cháu và dân làng thường gọi là Lăng Cụ Hàn. 

Theo lời kể của dân làng, Lăng Cụ Hàn có diện tích hơn 1 sào đất (1 sào đất bằng 360m2), ở ngay đầu làng.

Lăng có hướng đông nam nhìn về làng Thượng Cốc. Trước mặt là ao Cậy rộng lớn, nối liền ao Sung, ao cửa Đình Bùi, là mạch nước thông thủy quanh năm. Sau lưng Lăng mộ có gò đất rất cao to, nổi tự nhiên gọi đó là “Đống Địch”. Bên trái lăng là đường cái quan từ làng lên huyện, bên phải là cánh đồng lúa bát ngát tới chân đường 17. Đây là vị trí phong thủy rất đẹp “ tiền thủy, hậu sơn” hiếm có giữa đồng bằng quê nhà thật tuyệt vời do thiên tạo trời đất ban, cũng có người cho rằng đó là điềm phát khởi nguyên cho dòng họ Phạm Duy.

 Phía trong khu Lăng mộ nổi bật kiến trúc thời phong kiến, có hai cổng đi vào, hai bên Lăng Tẩm có Hổ chầu bằng đá, các ông phỗng là tượng quân lính và người hầu; phía trước ngôi là voi phục, táp môn và bia đá ghi công trạng của các cụ, phía trên là đôi rồng cuốn hướng về phía trước uy nghi, trang nghiêm và hoành tráng.

Năm 1978, thực hiện chỉ thị ngày 21/10/1978 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về phát triển phong trào xây dựng “Ao cá Bác Hồ”, chính quyền xã Gia Khánh đã vận động ông … di dời Lăng mộ, xã đền bù ruộng và hỗ trợ một vạn rưỡi gạch để mở rộng ao Cậy đào ao cá Bác Hồ. Mùa hè năm 1979, được sự đồng ý của một số ông trong dòng họ nên sau đó Lăng Cụ Hàn bị phá. Xót xa cảnh Lăng mộ tan hoang, những bức tượng chầu vứt ngổn ngang ở cổng chùa Bùi, cổng trường học hoặc bị ném xuống ao bởi chính con cháu trong họ …

Mộ cụ khởi tổ Phạm Duy Kính (ở Đồng Hói) và các cụ ở Lăng Cụ Hàn sau đó được di chuyển về Mả Bùi thuộc Thượng Cốc - Gia Khánh - Gia Lộc - Hải Dương ngày nay.

Năm 1980, con cháu ở tỉnh, thành xa về quê kể lại: nhìn nấm của các cụ chôn lại ở Mả Bùi sơ sài nên bị trâu bò dày xéo, ỉa đái mà đau xót lắm. 

Nhà thờ mất, mả tổ tiên bị phá khiến lòng người càng chán nản, ít về, có về thì tranh thủ thắp vội nén nhang ngoài đống rồi vội vã đi, anh chị em con cháu trong họ ít gặp mặt, qua lại.

Khoảng cuối năm 1980, ông trưởng tộc Phạm Văn Trình (cháu đời thứ 6, con trưởng của ông Phạm Ngọc Bích và bà vợ cả Phạm Thị Điểm) không chịu nổi cảnh đó nên đã rút tiết kiệm về quê xây cao “bờ tạm” để sau này không bị mất mộ, tượng chầu tìm được 3 bức đặt sau mộ khu mộ 7 ngôi (đặt các ông: ông Phạm Văn Tiệc, Phạm Văn Khuê, Phạm Tất Văn…ngành 1). Các mộ khác: Ông Phạm Hữu Đài (ông Huyện Đài), Phạm Hữu Thanh, Phạm Như Điện (ông Thông Điện), Phạm Văn Cát (ông Năm Tý), Phạm Văn Lầu (ông Sáu Lầu), Phạm Văn Tư (ông Bẩy) khi đó mạnh cành nào con cháu nhánh ấy tự xây dựng.

Khoảng đầu năm 1992, họ đóng góp lần 1 cải tạo khu mộ 7 ngôi đặt ông Phạm Văn Tiệc, Phạm Văn Khuê, Phạm Tất Văn… xây tường bao cao hơn trước so với mặt đất cao khoảng 1,2 m. Các ngôi khác con cháu các chi tự cải tạo nâng cấp.

Năm 2006, một lần nữa họ góp tiền giao cho ông Phạm Văn Lợi (con ông Phạm Văn Gian) trông nom trong quá trình cải tạo mộ ông khởi tổ và khu mộ 7 ngôi. Cùng năm này, mộ ông Phạm Hữu Đài, Phạm Hữu Thanh, Phạm Như Điện, Phạm Văn Cát, Phạm Văn Lầu, Phạm Văn Tư cũng được cải tạo nâng cấp vững chắc. Gia đình ông Phạm Ngọc Điệp (ông Bông) trực tiếp chỉ đạo cải tạo xây dựng ngôi mộ ông Phạm Hữu Đài, Phạm Như Điện cùng năm đó.

Đầu năm 2009 cải tạo mộ ông Phạm Văn Kham (ông mãnh tổ) và bà Phạm Thị Bống (bà tổ cô). Họ giao cho ông Phạm Sĩ Hiệp (con út của ông Phạm Ngọc Điệp) thiết kế, lo kinh phí; anh Phạm Văn Lợi (con ông Phạm Văn Gian) trông nom xây dựng kết hợp cải tạo thêm ngôi bà Nguyễn Thị Ốc và bà Đặng Thị Lành. 

Khi xây dựng, mua thêm đất để mở rộng xung quanh mộ ông Phạm Văn Kham và bà Phạm Thị Bống; đường vào khu mộ được xây kè đổ bê tông. Kiến trúc mộ ông Phạm Văn Kham và bà Phạm Thị Bống theo lối cổ xưa; ngôi bà Nguyễn Thị Ốc và Đặng Thị Lành ốp lát, xây bậc trông khang trang đẹp mắt. Cuối năm 2009 cả 4 ngôi cuối cùng của họ đã hoàn thành. Ngày khánh thành con cháu về đông vui như ngày hội.

Từ cuối năm 2009, con cháu gặp nhau nhiều hơn, các bác về quê bàn tính xây dựng nhà thờ tổ gặp không ít khó khăn. Hầu hết các ý kiến muốn lấy đất cũ để khôi phục xây dựng nhà thờ, nhưng đất ấy con cháu ở rồi, phần nhỏ làm vườn xưa kia người trong họ khác cũng đang sử dụng. Thật là rất khó, tranh luận gay gắt nhiều sẽ dẫn đến mâu thuẫn không cần thiết…

Ông Phạm Sĩ Hiệp (con út của ông Phạm Ngọc Điệp) và ông Phạm Văn Kích (con ông trưởng tộc Phạm Văn Trình) nhiều lần về quê tìm cách tháo gỡ, muốn dùng tiền riêng để mua đất khác đổi cho anh Phạm Văn Tứ (con ông Phạm Văn Gian) nhưng bất thành vì lý do rất tế nhị. Ý định mua đất chỗ khác hoặc sử dụng đất của ông Phạm Hữu Đài (đời thứ 4) để xây dựng nhà thờ tổ rồi cũng thấy không ổn thỏa nên việc lớn chưa thành.

Mùa xuân năm 2019 trong dịp thanh minh, ông Phạm Văn Lợi (con ông Phạm Văn Gian) thông báo đã mua được khu đất phía trước nhà thờ cũ, kinh phí do ông Phạm Văn Dũng (đời thứ 7 ngành 3) công đức, đó quả là tin vui đến với họ. Họ đã họp bàn, kêu gọi đóng góp kinh phí, thành lập Ban quản lý xây dựng.

Đầu năm 2020, công trình xây dựng nhà thờ họ khởi công và đã hoàn thành vào cuối năm. Ngày18/10/2020 (ngày 02/9/2020 âm lịch), họ tổ chức khánh thành linh đình trước sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương và sự hân hoan chào đón của con cháu huyết thống 3 ngành. 

 

C – GHI NHỚ CÔNG ĐỨC TỔ TIÊN.

Luận từ thời cụ Phạm Duy Kính đến nay, đã hơn 300 năm tổ ta về thôn Gia Bùi lập nghiệp. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước: Thời phong kiến - pháp thuộc - chống mỹ cứu nước, con cháu họ Phạm- Gia Bùi luôn có công lao xây dựng tổ quốc Việt Nam lớn mạnh - phồn vinh.

Tiếp nối truyền thống của dòng họ, dù ở quê hương hay lập nghiệp nơi xa, con cháu chúng ta luôn ghi nhớ công đức của tổ tiên.

Gia Phả lập, ghi lại theo hướng dẫn của các bậc trưởng bối, trưởng chi, trưởng cành và những người cao tuổi hiện đang khỏe mạnh sinh sống tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và thành phố Hồ Chí Minh. 

Hy vọng cuốn sách này sẽ đến mọi miền tổ quốc, những nơi xa xôi như Pháp, Mỹ, Canada… và các nước khác trên thế giới có con cháu họ Phạm Duy sinh sống để họ biết được phần nào về tổ tiên, về quê cha đất tổ của mình. 

 
Được phát triển bởi Gia Phả Đại Việt dựa trên nền tảng công nghệ của Cloudzone